Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

                            GƯỢNG LẠI

Một nữ tu, mười mấy năm xông pha chiến trận, chiến đấu quyết liệt với quân phiền não, vượt qua trần cảnh về Phật cảnh đổi sanh tử qua Niết Bàn, gặp phải chướng ngại lớn.

Nữ Tu Nguyễn Thị Lá mới 17 tuổi đã phát tâm tu, nay 34 tuổi, gương nga bợt màu quyến rủ. Tương chao tàu hủ đầy mình như vậy đáng lẽ lòng trần chôn chặc cho tương lai đầy hứa hẹn bên kia bờ giác thì lại chùng chân mỏi gối không màng nơi chư Phật đợi chờ. Do lúc ít tu, kiểm điểm cái tâm hời hợt mà đi chơi đây đó nhiều, tạo biết bao nhiêu kẻ hở trên đường tu để giặc phiền não chen vào. Nó vừa chen vào liền hay đuổi lập tức, tâm nhớm động một chút là cắt được thì không sao. Sợ chúng chen vào lâu mình không hay thì chúng mặc tình bành trướng, cái nhà của mình mà chúng làm chủ tình hình thì sự đổ nát nhanh thôi. Một lần ở chơi nhà người anh trai năm hôm để tiếp chút việc nhà cho anh ấy lúc chị dâu có chuyện đi vắng, mấy cháu bận việc bút nghiên, cô thấy nhà đối diện bên kia đường có một đôi vợ chồng trẻ mà yêu như một đôi tình nhân, quyến luyến không rời. xem thấy người ta mấy ngày thì lòng đã thích. Tâm tư ba đào sóng dậy mang tâm bệnh ấy về nhà thường nhớ chuyện tình người ta là hạnh phúc. Niệm Phật hết vô, cúng lạy biến trễ mệt mỏi không muốn vấn thân độc hành về Phật chi cho khổ khó. Nhìn đời  vương vấn tuổi thanh xuân, lay động dây tơ tình đã chưa lên cung đàn nắn phím… đồng đạo, bà con lối xóm thấy việc tu của cô giờ thì nghi ngờ lắm giống như chiếc xe chỡ quá tải mà leo dốc, xe không thấy đi.

Nhà cô thuộc dạng khá, có ăn có để, cô là vị tiểu thư số một trong gia đình các anh em đều là trai. Được mọi người trong nhà cưng chìu nhưng cô không tự đắc tự phụ. Cô phát tâm tu lúc tuổi còn quá trẻ, cha mẹ không bằng lòng nhưng cô quyết chí. Cha mẹ không tin nhưng cô thì rất tin mình có thể tu đến nơi đến chốn. Năm đầu bớt điểm trang thân thể, kem phấn chỉ dùng chút đỉnh khi ở nhà vì sợ cha mẹ buồn còn có chuyện ra đường thì mặt mày mình trời sanh sao để vậy, tu qua năm thứ hai đổi dứt khoát hết quần áo đời mặc toàn là màu đạo không xài kem phấn. Cô nghĩ, tu phải như chạy nhanh lấy trớn, người tu đang sống trong đời mà theo đạo bỏ đời, diệt các ham muốn trong đời không phải dễ, các cụ ví như thuyền chèo ngược nước, xe chạy lên dốc, lúc nước không ngược, dốc không lên cao thì rán mà chèo chạy cho có trớn để đẩy qua nước ngược dốc cao.
Lo tu thân, gìn tâm đúng hướng đừng lo sợ người nầy buồn mình người kia ghét mình hay thương mình, thứ đó cản trở lắm, còn hơn dốc cao nước ngược, có đi cho thành cụ lão cũng không tới đâu. Xe yếu, chạy chậm chạp, gặp đường sá sần sù, ổ gà riết hết muốn đi, bỏ cuộc.
Do cô chạy mạnh lấy trớn, thương con, cha mẹ dù không ưa cũng phải ưa, anh em không chịu rốt cũng chịu. Nhờ cương quyết vượt khó, lập hạnh ra thuyết phục là nên.
Nhưng cô chỉ thuyết phục trên một đoạn đường thì buông thả, tôi nghĩ không phải là hết sức chịu đựng đời tương dưa đạm bạc mà là hơ hỏng tâm tư để sự quyến rủ chui vào kẻ hở của lúc không tu niệm, thay đổi ước mơ, chí nguyện. Duyên sự đời ngược ngạo mọc lên trong chỗ nhiều năm qua chỉ để cho Phật, Pháp và Tăng ở. Mộng mị trong lòng cái tuồng chồng vợ. Mới ngày nào cô khuyên cha mẹ lo tu thì giờ cha mẹ đem lời khuyên lại; cái miếng “ Vạt Miểng ”đấp qua chút thân đã bị gió hồng trần thổi bay mất, sửa lần còn chiếc áo bà ba phong tục nhưng đã biến thái nửa Tây nửa Việt. Thay đổi cách phục sức chưa đủ nói lên sự yếu kém. Rất lạ lùng, cô mua dùng kem phấn trở lại, xài nặng đô hơn những cô gái đang xuân, em dâu út mới về nhà chồng còn nể mặt, em dâu trong nhà, chị em bạn dâu nhà bên cạnh xầm xì…một người đàn ông…còn vợ.
Thân sinh mới tự hào về con gái giờ rút lời không kịp nên buồn lắm. Lúc tâm trí bị dày vò ông bổng nhớ câu chuyện ngụ ngôn, ôm nỗi buồn sâu kín: có người vào rừng bị rắn độc cắn phải ngón tay, sợ nếu nộc độc chạy qua thân là bỏ mạng, anh liền lấy búa chặt văng ngón tay không tiếc. Chặc bỏ rồi thì đi, không chịu đi còn chần chờ, đứng đấy một hồi, nghe châu thân không có biểu hiện trúng nộc độc. Dòng máu phân cách coi như an toàn, anh tiếc ngón tay bị mất, cũng cái bệnh tiếc lượm lên gắn thử lại, liền đó nộc độc phát tác chuyền nhanh qua thân anh “trào đờm tại chỗ”, chết tức khắc.
Nghĩ ra là bắt sợ! Con mình quăng bỏ các duyên sự đời, mười mấy năm tu đâu phải là ít, quăng bỏ mà không chịu đi đứng chi đó cho tiếc, nay lượm lại mà dùng chắc là nó chán sống. Phải tìm cách ngăn cản không cho nó lượm lên hết cái nó đã bỏ, và nghe đâu nó không chỉ lượm cái nó bỏ mà còn sanh tâm bậy bạ lượm cái của người ta chưa bỏ, nhưng bằng cách nào đây?
Không biết những lúc hay đi dạo chơi, ăn nhằm món độc địa gì mà thay đổi tâm tánh quá mau. Giờ không thèm qua lại với bạn đạo, lẩn quẩn trong nhà sửa mày sửa mặt. Biết nó trúng độc mà không biết với tên thầy bùa thầy ngãi nào. Phải làm sao cho nó gần gủi những bạn chuyên tu, hâm nóng đạo pháp trong lòng đã quá nguội lạnh để may ra bệnh nặng có thể gặp thuốc hay. Suy nghĩ xong Ông tìm cách tâm sự với đứa con gái:
-  Con gái, qua thời gian dài hết tuổi thanh xuân của một người đàn ông trẻ, cha phải lo đủ cái ăn cái mặc cho các con, làm lụn vất vả không hở tay có đi chơi được đâu cho thanh thản. Nay tuổi già sức yếu hết sức lao động đành sang gánh trách nhiệm cho các con quản lý kinh tế gia đình. Ở không rồi, muốn vui lại cái tuổi xuân là điều không thể được. Mấy năm gần đây xứ mình nỗi lên phong trào đi hành hương chiêm bái, cha mẹ người ta nhà không dư dả, nhưng cũng cần kiệm, chiết bớt công việc đeo đẳng đi cho biết đó biết đây, cha mẹ của con cứ vì gia sản nói bận với kẹt mãi không đi cho biết trời rộng sông dài. Xét tuổi cha mẹ sống còn không bao lâu nữa thì cũng phải già chết, con hướng dẫn cha mẹ theo một đoàn tham quan vùng bảy núi được không?
Thị Lá tuy lòng không muốn, nhưng thương cha mẹ một đời vất vả chẳng còn lý do gì từ chối.
Sau bốn hôm theo đoàn đi hành hương chiêm bái, cô Lá tiếp cận nhiều hay ho trân quí qua những sinh hoạt đạo đức của chú bác huynh đệ. Bệnh nặng bổng gặp Thầy hay đưa trúng thuốc là bệnh sụt dần cường độ không còn biểu hiện sức tấn công. Cô phát hiện ra điều gì đó trong những năm tu mà tâm tư không đi đúng hướng. Cô gặp lại chính cô, thấy hết mọi lỗi lầm sai trật từ nguyên nhân nào, dốc cao nào? dòng ngược nào? Thật sự, tiến trình cô đi chưa đụng tới dốc cao, nước ngược lắm thì đã muốn “tắt máy chịu thua”. Trên đường đi, gần đến cõi nước của Phật chừng nào thì quân ma càng dữ. Nếu sự cản trở chỉ ở mức thông thường mà tinh thần chiến đấu đã bị hao hớt, tê liệt, hết khả năng phấn đấu, gần đến Phật đụng trận lớn hơn nữa thì sao? Nếu không kịp hay, để thời gian kéo dài vốn liếng của sự tu hành chắc phải bị vét khô, không còn cơ hội quay đầu.  Giờ cô hối hận chưa phải muộn lắm, chỉ cần quyết tâm thì sẽ lấy lại những vì mình đã mất, và sự cứng rắn, dứt khoát không lượm cái đã bỏ, chỉ 5 ngày sau, chiếc vạt miểng trở lại, cho kem phấn trên gương mặt của một nữ tu ra đi vĩnh viễn.



Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

NGHIỆM XÉT ĐỂ HÓA GIẢI CHƯỚNG NGHIỆP

NGHIỆM XÉT ĐỂ HÓA GIẢI CHƯỚNG NGHIỆP Đời người, sanh tử là việc khổ lớn, dầu người ta đua chen trong sự sống đến không để ý đến hành trình của Sanh và Tử thì việc lớn ấy cũng sẽ hành sự công khai. Giàu sang uy quyền cỡ nào hễ chừng chết đến dầu không chịu cũng không chống cự được với tử thần. Nhà cửa, đất đai, xe cộ… sắm đủ, vui chơi thoải mái, cuộc sống sang rất là sang mà đôi khi chỉ thụ hưởng được giữa chừng thì bỏ của. Phật dạy chúng sanh tu để giải quyết dứt khoác sự ràng buộc của sanh và tử trong một kiếp. Người sống nặng về vật chất thích thụ hưởng khoái lạc có lẽ sẽ không đồng ý bỏ đây để hứa hẹn một kiếp sau. Nhưng tu không phải là bỏ đây mà là đi từ đây, tiếp nhận cái hạt giống không sanh tử ( giải thoát) mà trồng. Bắt đầu đi trên giải thoát của từ sanh đến tử sẽ giảm dần những khổ đau của sống và chết, vì hành giả trong lúc tu đã tiếp cận với giải thoát sanh tử từ từ, để lúc sống là sống trọn cái không khổ là NHÂN chết sanh sang Cực Lạc hay hóa kiếp làm Phật là QUẢ. Thường thì ai cũng nghĩ đi theo đường Phật đi là tốt và an toàn nhất nhưng đề cập đến chuyện tu hành, bắt tay vào việc người ta sợ bị vướng phải những khó khăn về giới luật, rất ít người vào đây phát tâm Bồ Đề. Phật Giáo Hòa Hảo dạy tu tại gia, tu gắn liền trong đời sống, cúng nguyện sớm chiều cầu Phật độ mình độ người và sửa tánh răn lòng trước những ham muốn không đâu, những điều tội lỗi. Chỗ cầu nguyện cũng là trường đạo, phát tâm cầu nguyện cũng là phát tâm Bồ Đề. Tâm bồ đề là tâm rộng lớn, vì một người trong sanh tử luân hồi chịu vô vàn khổ não, quyết lòng cầu Phật cứu độ họ về cõi Phật hết khổ là biểu hiện cụ thể cái tâm rộng lớn chớ còn gì nữa! Vậy cầu nguyện cũng là một cách tu học trong nhiều cách tu học của đạo Phật. Có điều, mục tiêu của việc cầu nguyện là hướng tới đỉnh điểm THÀNH TÂM với Phật, tức khi hành giả nguyện Phật đến rước một linh hồn mới vừa thoát xác hay đã quá cố từ lâu thì lòng của họ chỉ có Đức Phật thôi, không bị xen tạp bất cứ sắc tướng âm thanh hay ý nghĩ nào khác. Khi ta đi sâu vào vấn đề cầu nguyện, thửa lòng ta có hiện diện màu Từ Bi, càng thành tâm cầu nguyện cho tha nhân lòng từ bi mỗi trở nên rộng lớn, lấn sân màu ganh ghét, ích kỷ, chừng đó ta thấy rằng, không thể nào đi cầu nguyện cho chúng sanh nầy
thoát khổ mà đi buồn bực ganh ghét chúng sanh kia. Ta nguyện “Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Phổ Độ Chúng Sanh A Di Đà Phật”, ta đã sớm chiều nguyện Phật cứu độ chúng sanh, nếu ta có buồn giận một người nào thì người đó cũng là chúng sanh mà ta hằng ngày nguyện Phật cứu độ họ. Không thể nguyện phật độ mà ta không độ, không thể nguyện Phật thương chúng sanh mà ta không thương. Hãy giác ngộ trong sự cầu nguyện như thế thì cầu nguyện cũng là một pháp môn tu đặc sắc, không qua trường lớp học đạo lâu dài. Ông chín Quanh giận người hàng xóm bởi qua sự mắc mớ của bọn trẻ hai nhà, Ông không tìm hiểu nguyên nhân và phân biệt đúng sai của con mình mà vì nó là con thì Ông phải ở bên phía nó. Chưa biết Chín Quanh ta giận vậy là đúng hay sai thì người hàng xóm của Ông không bao lâu sau đã phát bệnh ngặt đưa vào bệnh viện, qua xét nghiệm bệnh án của bác sĩ chuyên môn, bệnh của Ông hàng xóm giờ là thập tử nhứt sanh. Vốn nhà có đạo thân nhân của người bệnh ai không đi nuôi bệnh ở bệnh viện thì tại nhà tổ chức ngay cuộc cầu an, đặt bàn Phật trước sân, cầu nguyện ba ngày liên tiếp. Ngày đầu gấp việc không đi mời xa, chỉ anh em đồng đạo trong vùng đến tham dự, sẵn đó động viên an ủi gia đình, chia sẻ chút tình với thân nhân người bệnh để cả nhà tăng sức tu cầu, ngày thứ hai các đồng đạo ở làng xa hay tin đến tham dự phiên cầu an rất đông mà Ông chín Quanh là đồng đạo nhà sát vách, cũng thừơng đi cầu nguyện xa gần, không qua hùng hập chút công vào. Người ta bệnh, đau muốn chết đi được mà Ông vui, đả thèm, hả giận.( ) Hai hôm đến cầu an cho anh Hân (tên người bệnh) nhiều đồng đạo thắc mắc là không thấy Chín Quanh sang dự, có người ý chừng Ông ấy bận đi đâu xa, có người biết chuyện xầm xì sự sứt mẻ tình cảm của hai nhà, không phải sứt mẻ chút chút mà là bể to đến độ không thể hàn gắn được. Nghe câu chuyện, có người cậy tình quen thân với Ông chín Quanh xin lãnh trách nhiệm đi hòa giải. Nhưng chín Quanh chấp cứng, không muốn cho ai vào chuyện của hai người mà can thiệp nên đã trốn biệt trong buồng, xui xẻo cho Ông sứ giả hòa bình, vừa vào tới sân nhà chín Quanh đã bị mấy đứa con trai con gái của Ông ấy chận nói: - Cha tôi không có ở nhà - Thế cha các cháu đi đâu và có nói chừng nào về không? - Không biết. - Vậy, còn mẹ cháu? - Cũng đi vắng. - Đây đến chiều tôi còn bên nhà anh Hân, nếu cha mẹ các cháu có về kịp, xin nói giùm là tôi muốn gặp anh chị ấy. - Không hứa. Thường thì các con của Ông chín Quanh nói năng nhỏ nhẹ, lễ phép, đâu có ăn nói cái kiểu “cụt ngủn” như vậy, nhưng vì ghét cay ghét đắng nhà Ông Hân mà giận lây, bà con vì vì mặc kệ, với con mắt của chúng hễ ai vào ra nhà đó đều phải bị đối sử như người xa lạ, khó ưa. Hết 2 hôm cầu an cho người nhà bên cạnh, anh chín Quanh ở rút trong buồng bếp không dám ra trước sân nhà cho ai thấy mặt để đám con Ông tha hồ gian dối. Qua ngày thứ 3, lệ công phu thời sáng, đương chấp tay nguyện cầu “Nam Mô Tứ Nguyện Cầu Bá Tánh Vạn Dân Từ Tâm Bác Ái Giải Thoát Mê Ly” bỗng sực nhận ý nghĩa huyền thâm của câu nguyện đã hằng ngàn lần, hằng chục ngàn lần nguyện vái mà không hay biết nguyện để làm gì, kết quả gì cho người nguyện vái và người được nguyện vái. Phực sáng tâm… như trong đêm tối bật đèn, thấy rõ mình đang đứng ở đâu trên đường tu, đang làm gì trên tuyến đường về với Phật , đặt ngay nghi vấn: cầu nguyện cho bá tánh vạn dân từ tâm bác ái giải thoát mê ly biết bao ngàn lần sao mình không từ tâm bác ái giải thoát mê ly? Bá tánh vạn dân là số đông là toàn thể như từ “chúng sanh”không còn ai riêng ngoài. Khi mình nguyện, mình nằm ngoài bá tánh vạn dân hay cùng có trong bá tánh vạn dân? Nếu mình cùng trong bá tánh vạn dân do mình cầu nguyện thì mình đã từ tâm bác ái giải thoát mê ly rồi, hay mình đặt mình ở ngoài bá tánh vạn dân để không chịu “Từ tâm bác ái giải thoát mê ly”? nếu không chịu từ tâm bác ái giải thoát mê ly mà nguyện cho chúng sanh từ tâm bác ái giải thoát mê ly để làm gì? Từ tâm bác ái giải thoát mê ly là tốt hay xấu? Sự tự vấn lương tâm quay trong não khiến anh đã nhận ra rằng: Chúng sanh là tiếng kêu chung, nguyện chung không riêng ai. Ta là chúng sanh, người mà ta giận cũng là chúng sanh, cả hai đều được Đức Phật cứu độ bằng cách dạy ra cách cứu để mỗi chúng sanh tự cứu. Một chúng sanh giác ngộ quy y Phật Pháp thì ý thức trách nhiệm đâu đó đã sẵn về việc phổ độ, có giận ai cách mấy thì sớm chiều ngày nào ta cũng vang mồm cầu Phật cứu độ họ. “ nam Mô tây phương cực lạc thế giới đại từ đai bi phổ độ chúng sanh A Di Đà Phật” không có ngoại trừ Ông Ổi Ông Xoài đáng ghét nào. Thế sao ta không biết tủi nhục cho cái điều mình cầu nguyện cho họ hằng ngày mà còn đi giận họ.? Ông chín Quanh sợ đến toát mồ hôi, tỏ ngay thái độ ăn năng với Đức Phật, Đức Thầy và với người hàng xóm. Nhân bửa điểm tâm sáng cho cả nhà Ông khuyên nói với vợ con: - Thôi đừng giận ghét nhà bác Hân nữa mấy đứa bây ơi. - Cha à, họ,… - Là lỗi của chúng ta. - Không phải, thằng Mai nó hại người con yêu. - Nhưng cháu ấy đã tai qua nạn khỏi thì biết nó đã trồng cội phúc mà họa không thể đến. Hãy vì hạnh phúc của mình mà tha thứ thì thương yêu sẽ đến với chúng ta nhiều hơn. Nói rõ với vợ con xong chín Quanh đi riết vào bệnh viện, thấy người hàng xóm nằm thiêm thiếp, đôi mắt không ham nhìn đời, Ông đến cầm đôi tay người bạn đạo láng giềng mà tưởng như cầm tay một vị ân nhân cứu mạng. Bệnh nhân bị động thân gượng mở mắt, nhìn thẹn, mỉm cười… Có ai thấy họ trao nhau tình phật qua tình hàng xóm??? Ông Quanh ra về, cũng với thái độ riết về, mua một xách hoa vừa đẹp vừa thơm, tiếp sửa sang, cắm hoa mới trên bàn Cầu Phật trước sân nhà người cận lân. Các con anh Hân ngỡ ngàn cho việc quay trở của Ông chú láng diềng đã chủ động mấy tháng không nhìn mặt nhau, chúng e dè đứng cách khoảng mà nhìn cử chỉ làm thật lòng của Ông chú và chúng sáp gần, một đứa cảm động quay sang chỗ khác mà khóc lén, Cô Lành, con gái lớn của anh Hân bất ngờ chạy đến nắm bàn tay cầm hoa của Ông Chín kéo đưa lên mủi hôn miết hai ba lược làm Ông chín xúc động, muốn rơi dòng lệ nóng nhưng gượng cười, nói: - Chú đã đối sử không hay với cả nhà cháu. Có phải vì vậy nên cha của các cháu buồn mà sanh bệnh. - Nhưng Em cháu đã tạo sự mắc mớ nầy. - Chuyện đó là thường tình của thế gian, chú và cha cháu là người trong đạo, không thể cậy vào chuyện thường tình của thế gian ăn miếng trả miếng mà sống và minh bạch sự sống bằng hơn thua, được mất. Người tu, theo phương châm Phật Giáo lấy trí huệ, từ bi làm gốc, trên đường rủi gặp chuyện gì cũng đem trí huệ, từ bi ra mà hành sử cho phải với người có đạo. Lỗi ở chú là chú không làm được việc nầy sớm hơn để sự bế tắc của hai nhà mỗi lúc trở nên trầm trọng. Lành ôm cánh tay ông chú, nhủi mặt vào vai: - Cám ơn lòng tốt của chú, nếu trong bệnh viện mà nghe được chuyện nầy chắc cha của con sẽ vui mà hết bệnh tức khắc. - Nếu được vậy thì hay quá hả! - Con hy vọng là được. - Đáng lẽ thì chú nên hóa giải chứ không nên đi cùng con chú mà giận lây những người không lỗi như cha, mẹ các cháu. - Không sao đâu, sự tha thứ của chú vẫn còn kịp lúc. - Thôi nay nhà có chuyện, các cháu hãy đi làm công chuyện của mình để không thôi lác nữa khách ùng tới cho mặc sức mà chạy đãi. - Dạ. Anh chí Quanh cắm hoa mới trên bàn cầu Phật và ý tưởng làm mới lại cuộc đời mình .

Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2014

DUYÊN TRẦN BẠC BẼO

               DUYÊN TRẦN BẠC BẼO

Chỉ còn một mình trong mái tranh nghèo, lớn nhỏ rủ nhau đi về cõi chết, cô hai Nghì giải quyết nhanh những đồ dùng không cần thiết từ trong nhà cho đến bản thân để biến nhà thành am thất thanh tịnh cho một nữ tu sau khi những người thân yêu lần lược qua đời.

Sống đời trần duyên bạc bẽo, còn bé thì đã mồ côi cha lẫn mẹ, sống nhờ tình thương của Cậu Chú Cô Dì mà lớn lên trong buồn tủi, bất hạnh, đã vậy còn bị trừng phạt thêm suốt kiếp nghèo dai dẳng. Tạo hóa cho cô sanh chỉ một đứa con gái thì năm sau cha nó qua đời, đau như giãy chết. Tuổi còn bén xuân, hương tình đẩy đưa, rộn ràng Ông Bướm. Có người đàn ông trẻ, cưới vợ qua vài năm chăn gối thì bà ta yểu mệnh trong khi chưa sanh cho Ông ta đứa con nào, đến hỏi chuyện trăm năm với cô, hứa lo lắng hết lòng cho mẹ con cô có cuộc sống ấm êm. Nhiều bà con trong xóm biết người đàn ông trẻ nầy hạnh kiểm tốt lại sống nhờ phụ ấm của tổ tiên có ăn có để, khuyên cô nên lấy anh ta sau nầy không lo nghèo đói. Nhưng cô một lần đứt dây tơ tình là ngán ngẩm, hết một ước mơ trăm năm như vậy cũng đã đủ, còn ham chi mà kiếm thêm một lần trăm năm nữa! Cô quyết không tái giá, sống trong cảnh nghèo thiếu chật vật cam chịu tu tâm sửa tánh giải bớt nợ nầng đời trước để một kiếp thì chấm dứt, không có kiếp sau sanh lên chịu sự trừng phạt của quả báo như giờ. Đọc thấy trong giáo lý PGHH dạy rằng “ Miễn cho được ngày hai cơm tẻ, buổi bần hàn đặng có tu thân” . Cô nghĩ, mình Nghèo, nhưng ngày hai cơm tẻ luôn luôn được bảo vệ tốt, chỉ còn lo tu nữa là đúng sách.
Ngày qua ngày tần tảo nuôi con. Đến tuổi học trò cô cũng dẫn cháu cắp sách đến trường. Cháu học rất giỏi, ở trường Thầy, Cô giáo dạy cho cháu chữ nghĩa, về nhà mẹ dạy cháu lễ nghi hạnh cách. Học lên vài lớp, vì gia cảnh nghèo không tiền đóng học phí cháu phải đành thôi việc bút nghiên.
Gái lớn lên là phải có chồng, cô gả chồng cho con, duyên tình nồng ấm tạo hóa cũng theo đó mà trớ trêu đùa nghịch, nó sanh cho bà một đứa cháu gái, chưa đầy một năm nó cũng vội vàng theo cha xuống chốn tuyền đài.
Chứng kiến hai cái chết của hai người thân thương tuổi xuân đang độ nồng nàn cô rất đau buồn mà nhìn về tương lai càng thêm mờ mịt, thấy mình mỗi lúc mỗi cô đơn tróng vắng, mệt mỏi, ngao ngán.
Nuôi cháu ngoại còn nằm trong nôi, mỗi sáng chiều bà ẵm cháu đi xin bú thép mà cảnh tình lúc nào cũng thiếu thốn, vất vả. Có hôm bà chợt nghĩ điều mà đáng ra bà không nên suy nghĩ: Định mệnh khắc khe bắt gia đình mình số 2 là con số cuối cùng sao? Hết hai lần nhà có hai người, hễ lên đến con số 3 thì trong 3 phải chết 1. Nghĩ đến… bà bắt đầu lo sợ đứa cháu ngoại lớn lên thì phải có chồng, sanh con, hộ khẩu gia đình lên con số 3, con số quy luật đáng ghét! Không biết rồi đây bà hay cháu ngoại của bà chứng kiến trong nhà có một người chết nữa…
Tức khắc bà suy nghĩ lung tung: nếu cháu có lập gia đình thì gả đi chớ không bắt rễ nhà nầy sẽ không lên con số 3. Cho như vậy là yên. Mừng chưa lâu  bà nhận ra sự nông nổi của mình có thể dẫn đến tình huống bi đát hơn làm mất đi con số 2 quyết định. Nếu cháu bỏ ngoại xuất giá vu qui nhà chỉ còn một bà già, con số 1 còn đáng ghét hơn. Thử tính chuyện không cho cháu gái lấy chồng, bà biết là không đơn giản, tuổi xuân hạnh phúc lứa đôi rất là quan trọng nhưng chỗ bà thấy sự sống chết của con người còn quan trọng hơn, vợ chồng làm chi
một chút rồi kẻ dương gian người âm cảnh…


Cắt đứt dây tơ tình chỉ có một điều duy nhất là TU . từ đó bà thường dẫn đứa cháu ngoại đi chùa lạy Phật, học hỏi đạo lý chứa nhiều trong lòng cho lòng không còn điều thế sự mà ham hố. Tuổi cháu, từ lúc học lớp 2 trường làng, bà ngoại dạy cháu cúng lạy sớm chiều, mãn giờ học ở trường về nhà bà cho cháu học đạo hoặc dẫn đi tham dự những cuộc cầu nguyện, bà gợi lên chuyện học hỏi Phật Pháp cho cháu có nhiều ấn tượng đạo đức. Ngoại may mặc cho cháu đồ bà ba đáy nem thành cô “Đạo Nhí” ngay. Mỗi khi cô đạo nhí  theo ngoại đi chùa, cầu nguyện, học hỏi, luôn tỏ ra có hạnh nết, quý Ông Bà Cô Chú trong đạo rất thương mến ngợi khen. Tiếng khen cô đạo nhí ngày qua ngày đồn đải ra xa chiêu mộ tuổi thơ, măng non lớp lớp làm ấm gốc những buội tre già. Cô đạo nhí rất mực thông minh, hiểu biết lanh lẹ, nghe dạy một lần là nhớ. Học mỗi năm mỗi lên lớp với điểm cao; bà ngoại được giấy khen của Thầy, Cô, cháu là học sinh tiên tiến.
Năm nay cô Đạo Nhí lên lớp 7, càng lớn càng trầm tỉnh, đẹp ra, mặt vui nhưng không vui cười trửng giỡn. Mỗi hôm đi học về, buông cập vở ra là phụ tiếp công việc nhà với ngoại. Thế rồi gần học thi cuối năm lớp 7 cô “ Đạo Nhí” bị cảm nặng, dẫn tới nằm liệt trên giường không ăn uống gì nữa. Trong cơn bạo bệnh cô đạo nhí mình mẩy có hơi khó chịu nhưng kiên nhẫn niệm Phật quyết không lơi lòng cho sự khó chịu làm náo loạn trong tâm. Cô cho ngoại biết cô vẫn chánh tâm Niệm Phật và báo lên điềm mộng đêm rồi với ngoại rằng Đức Phật A Di Đà hiện diện trước mặt con, Ngài nói sẽ đến rước linh hồn con  ngay lúc con lâm chung.
Bà ngoại thoán chút mặt mày rạng rỡ vì kết quả cho sự tu hành của đứa cháu cưng thì tâm hồn trở nên hồi hộp, lo sợ, trên nhân gian nầy bà sẽ mất vĩnh viễn đứa cháu ngoại dễ thương.
Qua vài hôm ngoại lo thuốc thang cho cháu chống cự với tử thần, cô đạo Nhí yếu lắm, biết sắp được Phật đến rước mà hết sức ngồi dậy để biểu hiện sự ra đi an lành, cô nằm xuôi thẳng đôi chân, bình tỉnh, chấp tay lên ngực để biểu hiện có Đức Phật đến trong giờ phút thiêng liêng,  trước sự chứng kiến của chư đồng đạo.
Bà ngoại Nghì, không biết phải gì khóc quá nhiều cho chồng cho con đến không còn chút nước mắt khóc cháu, hay vì mấy năm theo đạo tu hành bà đã tu được, học nằm lòng lời Phật dạy về tấm thân vô thường giả hợp mà đạt đến “Nghiệp sạch tình không”. Bà âm thầm làm hậu sự cho cháu bằng Niệm Phật, niệm Tây Phương tiếp dẫn mà chắc rằng lời nói trước lúc lâm chung của cháu là sự thật.

Sanh sống có tình người, vui vẻ, hiền từ. Nhà nghèo nhưng rất trong sạch về tiền bạc, cặm cụi với nghề làm bánh bán nuôi thân kiếm ngày hai bửa cơm đủ để niệm Phật hành thiện. Có người tới chơi thấy bà cực khổ, hẩm hui, thương tình mở mòi bày chuyện cho bà kiếm thêm tiền và đở nhọc, bỏ cái nghề làm đủ nhét kẻ răng nầy, sợ chừng già hết làm được nghề lấy đâu mà ăn sống tu hành. Nói tiền nhiều bà không ham, cho tiền không công bà không nhận, hạnh cách đó bà con trong xóm, đồng đạo xa gần rất quí mến, cảm đức hiền lương đem hết tâm quyết “Con Một Cha”của Đức Thầy dạy, ủng hộ chịu hết chi phí các lễ cầu tuần cho cô đạo nhí, cháu gái của bà.
Khách đến cầu siêu đưa tiểng vong linh đạo Nhí rất đông có lúc trong nhà không còn chỗ ngồi, chỗ đứng, đùn người trước sân, đường. Những nhà lân cận bên này bên kia đường thấy thế tự lôi bàn ghế trong nhà ra mời khách tạm ngồi, lăng xăng trà nước. Một điều hết sức là ấn tượng, trong lúc làm lễ di quan người ta thấy có 37 đồng đạo cô cậu tý hon mặc đạo phục xếp hàng đôi từ chiếc võ đò đi lên vừa vào sân nhà đồng thanh đọc lớn bài Tây Phương tiếp dẫn vong linh.
Đưa huyễn thân cô Đạo Nhí đến nắm đất hoang diễn ra rất trang nghiêm long trọng. Bà ngoại Cảnh từ đây hết lo sợ chuyện huông nhà 3 mất 1. Bà đinh ninh số 2 là con số thỉ chung của nhà mình không dám kiếm thêm số 3, nhưng không ngờ, con số 3 bà đã không dám tính tới mà nợ tiền khiên oan nghiệt còn cướp mất con số 2 nguyên lý của nhà bà. Trước cảnh mất 2 còn 1 bà mới thắm thía lời Phật dạy hơn bao giờ hết.
Giờ thấy chuyện sanh tử vô thường không cần đem bàn bạc nữa, một thân trơ trọi nhưng không cảm thấy tróng vắng cô đơn, điều lo sợ trước kia già bệnh chẳng ai lo, chết không người chôn cất giờ trở thành vô nghĩa và cho đến hết kiếp bà không đem ra bàn bạc nữa. Trong lòng bà có Phật, bà nguyện khắc cốt ghi xương theo Phật quy Tây.



Uống Được Thuốc Rồi Hả

                 UỐNG ĐƯỢC THUỐC RỒI HẢ

Chị Kim Xoàn luôn mấy hôm buồn bực chuyện nhà, sân hận với chồng tới tột đỉnh chỉ vì anh ta thiếu sự phô trương màu đạo. Chị tu, chồng chị cũng tu, cả hai theo hạnh cư sĩ tại gia Phật Giáo Hòa Hảo. Chồng chị lúc nào cũng với thái độ ung dung, trầm tỉnh, hay nghe, ít hỏi, dở nói. Chị trách Ông chồng sao mà lù khù chẳng thông minh về Phật Pháp cho có danh phận trong đạo, đã khờ như vậy còn không thích đi đây đi đó học hỏi. Theo chị nghỉ có học mới hiểu biết nhiều điều do đó được sáng tâm sáng mắt thấy rõ mục tiêu, tu đúng cách.

Ông chồng khờ, Chỉ khi nào bị vợ ép lắm mới đi đây đó chút chút cho vui nhà, tới đâu được cái nước ngậm miệng chờ người ta dạy, chưa biết có thuộc bài không mà về nhà không biểu hiện, dù chỉ biểu hiện kín đáo một vài nét tượng trưng cho cái công “Đi một ngày đàng”của mình. Lần đi dự đám giỗ chay ở cận xóm, nhận dịp chị Kim Xoàn mời một nam đồng đạo về nhà với thiệu đôi nét thông minh của khách cho chồng so sánh và học hỏi để có cơ hội tiến thân nhưng chồng của chị cũng chỉ chào hỏi, vui vẻ với khách mà chẳng đặt câu hỏi nào cho người ta đánh giá sự quan tâm hay thờ ơ trong việc lập thân hành đạo của mình. Không đặt câu hỏi để người ta biết mình có sở trường gì trong sinh hoạt đạo đức. Thái độ tự nhiên, bình thường của Ông chủ nhà, cho khách có giỏi miệng cũng khó mà tìm được sự thích nghi với môi trường Phật Pháp thì sự đánh giá cho dù là khách quan, đồng đạo chủ nhà chỉ là tín đồ “ hờ ”  mà thôi.
Chừng khách ra về chị lằn nhằng:
- Sao anh không tiếp người ta mà học hỏi?
Anh Thể_ chồng Kim Xoàn_ mỉm môi nhìn vợ:
- Chẳng phải Anh đã ngồi suốt và vui vẻ nghe đó sao?
Kim Xoàn ra vẻ bực bội:
-  Nghe là một lẽ, ngồi như cây khô mà kể lể sao? có học được hay không mới là điều đáng nói. Đừng để uổng công em đi mời người ta.
 Tiếng “đi mời người ta” Anh Thể nghe không vui tai lòng  sinh khó chịu mà chưa hay để kiểm soát, lỡ lời trách móc:
-  Mục đích của em là mời thầy giáo về dạy kèm anh sao?
  Nghe câu nói ẩn chứa nội dung không lành, có ý mỉa mai, lửa trong tâm chưa vì đã bốc khói:
- Ừ, như vậy thì sao?
Sự giác ngộ của người đàn ông trong mái ấm không quá muộn, anh ta cười nói:

- Đồng đạo, trông bộ giận hả? đã lỡ lời không phải với em thì anh xin lỗi.
Kim Xoàn nghe Ông xã kêu mình là đồng đạo, danh xưng thật mới mẻ trong vợ chồng, chị thắng đúp sự giận dữ, gượng dịu giọng:
- Họ cũng đồng trạc tuổi và tu cùng lúc với nhà mình nhưng họ thông minh, lý luận Phật pháp tài năng…
- Anh biết, nhưng sự học đạo của anh khác hơn.
- Cũng là đạo Phật Giáo Hòa Hảo với nhau anh nói học đạo khác hơn là sao?
Anh Thể không muốn kéo dài lôi thôi, ngắt ngang sự tranh cải không cần thiết, giả vờ không nghe, lánh đi chỗ khác, vừa mới nhắc chân, Kim Xoàn đuổi theo tai:
- Sao anh không trả lời câu hỏi của em rồi hãy đi!
Thể đùa:
Khách đã đi về, thôi mình chấm dứt chiến tranh có lẽ sẽ hay hơn đồng đạo của tôi ơi.
Đừng có lợi dụng chỗ đồng đạo mà bảo em tha, anh đặt điều chiến tranh để mà né tránh. Anh trả lời em đi.
- Nhưng em có hết giận chưa thì anh nói?
- Có chuyện nói thì phải nói chứ giận hờn gì!
- Không giận là tốt, chúc mừng em!
- Gì hả?
- Anh học đạo cốt yếu là để hành theo chớ không phải để trưng bày sự hiểu biết của mình qua lời nói, thay vì học nói về giặc phiền não với tính sân hận phải diệt thì anh học cách diệt sân hận để thực sự lòng mình không còn sân hận hơn là phải nói đủ điều về sân hận mà sân hận cứ tác oai tác quái. Em chê anh không thông minh về Phật Pháp anh nhận lời phê bình của em là đúng, nhưng em có chịu nghe anh nói một lần mà đừng buồn không? thông minh Phật Pháp như em, sự hiểu biết nhuần nhuyễn về giáo lý nói suốt ngày không hết, đáng lẽ khi đụng chuyện thì phiền não không sanh mới phải hoặc có lỡ sanh thì một chút là thôi, em có làm được việc đó chưa? Kiến thức hiểu biết về phiền não sẽ làm cho em thích nhưng nó không giải quyết sự bế tắc của phiền não cho em tróng đường mà về Tây Phương được thượng lộ bình an.
Đã được trả lời bằng sự giải thích kỷ cho thắc mắc “ sự học đạo của anh khác hơn” nhưng chị Kim Xoàn không nắm bắt được ý chính để tháo gở sự trói buộc của sở kiến. Chị thuộc dạng “tu đi, tu vui”, tu la làng la xóm lên, uyên náo danh tu cho người ta biết đặng lãnh tiếng thông minh, chồng chị thì trái lại và anh ta không phải là người hẹp hòi khó tính với người bạn trăm năm nhưng chị đi hơi quá trớn, có những quan hệ quá trớn mà anh đã nghe… chuyện chị đi, việc chị cho là học đạo, hành đạo, xét chưa mấy lợi ích cho đạo hay cho bản thân người hành đạo. Không dám nói rằng chị mượn cớ đi học đạo để có vui thích riêng dù sự vui thích không phạm vào luân lý, nhưng anh thấy, vui thích trong trò chơi “bắt bóng chân lý”không phải là yêu cầu của tôn giáo đạo Phật. Có thể chị thật tâm nhưng không thật trí, sự thật tâm mà không thật trí sẽ không phát hiện chính mình bị dục vọng gài cứng trong danh. Chị làm đạo, học đạo đều do dục vọng chỉ huy sai khiến, thích giao tiếp với nhà giàu, với những người có tiếng trong đạo, là trí thức. Anh thấy tánh tình của vợ “Tìm Đạo Quá Mồm”[1], học thêm sự hiểu biết không phải để tu mà là để cậy khôn, cải lẩy cho bằng được những điều mình muốn. Anh không để xảy ra trường hợp nào  to tiếng với vợ và thay vì điều chỉnh cô ta anh rán điều chỉnh tâm mình cho vững không bị cô ta làm náo loạn, méo mó.

Chị Kim Xoàn giận không kìm được mà nói là đi tìm chỗ Niệm Phật, chuyên tu hơn để có thuần Phật trong tâm. Nhưng chị đã vào mấy khóa tu chuyên môn rồi, niệm Phật siêng suốt ở Niệm Phật Đường mà chừng về nhà, trong tâm không có Phật theo về. Gượng làm hạnh cách vài hôm thì gai ngạnh mấy lúc trước cũng lại mọc ra đầy mình. Bài chị thường tụng là hay so sánh chồng mình không bằng đàn Ông khác: đàn Ông người ta sao mà thông minh khôn khéo còn Ông nhà mình lúc nào cũng lù khù.
 Ấy vậy mà chồng chị thông cảm ra mặt, cho chị có quyền muốn tu cách nào thì tu, niệm Phật nhiều hơn cỡ nào thì cứ niệm. Niệm ở nhà hay muốn đi đâu đó niệm cũng được, anh không cản. Nhưng trong việc tu, điều anh cần là đáp số của Niệm Phật đúng trọng tâm của người tu Tịnh Độ, đúng ý nghĩa của Chánh Pháp từ Đức Thích Ca Mâu Ni dạy Và Đức Thầy nữa, Niệm Phật như thế nào? Niệm Phật để đừng còn niệm chúng sanh chứ gì? Điều nầy phải lấy hành giả làm thước đo chứ không biểu hiện tính thông minh của một học giả. Thấy người ta tu có hơi khác mình là chê dở, nói ngu, còn muốn sanh sự, rầy rà là niệm chúng sanh chớ đâu có niệm Phật. Tự thân mình khổ cảnh phiền não không lo trị, có đi kiếm chỗ đông người Niệm Phật đặng vui mà lấy trớn, cỡ nào thì phiền não của chính mình cũng phải tự mình trị lấy, không thể dựa vào sức tu học đông để người ta giúp đánh tan phiền não giùm mình, xăm xoi việc của người khác, không có lợi cho việc tu tâm.
Mang ý nghĩ của một học giả về giáo lý, ngay từ lúc đầu, thấy Ông chồng sao cứ tối ngày làm“ Vật Chướng” khiến chị tu không yên, chị không ngờ vật chướng mà chị đã gán ghép cho Ông chồng chính nó đã phát sinh từ trong tâm mình, không biết mà sử lý ngay, kiếm chỗ tránh cho khỏi chướng mắt chướng tai không phải là cách hay. Công việc của chính mình có cái không thể nhờ ai đó làm giùm, mình cột gút thì phải chính tay mình mở gút, việc tu không ai tu giùm cho ai. Chị Kim Xoàn tối ngày cột gút với chồng một cách vô ý thức, không chịu “thôi

cột” và mở gút cũ. Nợ mình gây cho đã rồi bỏ trốn, không hóa giải trốn bao lâu nợ cũng còn. Thế nhưng chị cho đó là cách và với vài hy vọng mong manh: May ra, lúc mình đi vắng nhà, chuyên lòng hành đạo, anh ta có tranh tu học với bà xã mà tiến bộ hơn không.

Hết bốn ngày nương thân trong lớp tu vẫn chưa chảy gở những vướng mắc va chạm trong lòng. Lúc ở nhà niệm Phật, Phật cũng có đến rồi đi, giờ chọn chỗ yên tịnh tu chung, Phật cũng đến đến đi đi như lúc Niệm Phật tại nhà, cũng đứt khúc rồi nối lại, cái làm cho đứt khúc mỗi nơi có khác.
Tưởng đi cho được an tâm, chừng đụng chuyện mới biết là không thể. Nhà trường có khuông khổ, nội qui… bỏ ngang thì không đành dạ mà ở lại, nhắm bề nuốt cái “Động”cũng không trôi.
Nghe có cuộc cầu nguyện ở gần chỗ nương tu, lòng liền dậy sóng nhỏ sóng to đủ kiểu mà không hay, nó tha hồ chuyển sóng động tiếp. Phật trong tâm bị bống đen đè lên mất, chừng phát hiện mình xa thực tế thì dục vọng đã đi quá trớn, áp đảo tinh thần, cố gắng Niệm Phật cho Phật ở suốt trong tâm nhưng cứ bị đứt nối, nối được một chút thì cũng đứt nữa, thời gian đứt kéo dài hơn thời gian nối, chị quyết ở thế chủ động không cho đứt và nếu có đứt phải nối lại liền. Kết quả cũng chỉ là quyết nói chứ không quyết làm, chủ động cái thân ngồi lim dim dựng thắng xương xống trên tấm tọa cụ cho có cái “oai đạo” thì được chứ chủ động tâm cho vắng lặng trong sạch là không thể. “Vọng Niệm Chúng Sanh”có sức mạnh hơn, đang làm chủ tình hình, xách vụt chị lại lễ cầu nguyện…

Dự lễ cầu siêu xong đáng lẽ chị Kim Xoàn trở về ngay Phật Thất, tìm lại lộ đồ, dẹp tan sóng gió để đi tiếp trên con đường về Tây Phương được thượng lộ bình an. Nhưng chị không thể, lòng hết ham hố trở lại cái nơi không gian yên tĩnh. Chị tự nhắc ghế ngồi quanh bàn tròn chỗ đồng đạo hai Lý nói chuyện. Anh hai Lý không phải là giảng Viên chuyên dạy người ta tu thế nầy thế nọ, Ông là hành giả, kể cho mọi người nghe việc sai lầm bướng bỉnh của Ông thuở nào.
Kể chuyện vô tư nhưng nhờ Ông là hành giả thành thử cốt chuyện rất lôi cuống, ngọt ngào qua ngôn ngữ bình dân dễ mến, Không hay tự chuyện của mình tình cảnh giống như chuyện của nhà chị Kim Xoàn. Anh Lý đã chữa hết những sai lầm bướng bỉnh của anh mà nói ra đây nó có tác dụng như một tiên đơn linh dược, chị Xoàn mang cùng chứng bệnh ấy uống vào là hết ngay.
Thuốc vào thắm người, thật mạnh mẽ! Chị trở nhanh về nhà ngay lúc chồng chị đang ghiền đọc quyển Giáo Lý PGHH, không hay mà chào người đi trở lại. Gan dạ lên rồi, nhưng chẳng biết phải đi từ đâu để nhận sự không phải với chồng. Chị vả vờ bị cảm, ngả người lên giường cho chồng săn sóc, tạo cơ hội…chị chưa kịp cất tiếng than đau nhức đầu thì chồng chị đã giúp chị phá tan mặc cảm âm u bao ngày:
- Em về là hết giận anh rồi phải hôn?
- Anh ơi em đau đầu quá, bắt gió giùm em đi!
Chồng nghe nói liền đến bên giường đưa tay rờ đầu, tráng vợ không nghe thấy có chút dấu hiệu bệnh. Anh chưa biết phải làm gì thì chị Xoàn cầm lấy tay anh và nói:
- Cho em xin lỗi!
- Lỗi phải gì đây?
- Từ rày em không trách anh tu khác cách, không đòi hỏi phải tu giống người này người nọ nữa…
- Thật sao! Đi mấy hôm, bộ…Em uống được thuốc rồi hả?
- Dạ, ừa…






[1] ) Trích lời Đức Thầy trong bài Sa Đéc “trong bá gia tìm đạo quá mồm”